No one to see

1169257481-sc-120
Disrupted night
Broken dreams turn into fragmented thoughts
Birds fight in the wood
as day breaks and enters
without fail
Another morning
Another noon
We march through the hours
moving through space
Grass
Sunshine
Fragrance in the air
Strangers’ faces here and there
We march
Laughter and hopscotch
Tears and tic tac toe
Random games
Same result
The here
The now
The live in the moment
Will they come back
and haunt us
in the wee hours
when broken dreams and fragmented thoughts
linger
for no one to see
Categories: English, Thoughts, Whatever

Chín ngày

nine daysBạn sẽ làm gì nếu bố/mẹ bạn là một nhà hoạt động dân chủ, và một ngày bỗng bị bắt giam vĩnh viễn?

Bạn sẽ làm gì nếu bạn là một người viết báo đối diện với đề tài nói trên?

Ti-Anna dành phần còn lại của cuộc đời mình để đi tìm tự do cho cha cô bằng nhiều cách khác.

Fred Hiatt viết tiểu thuyết.

1. Năm 1989, Ti-Anna chào đời tại Montreal, Canada. Tên của cô không phải là một ngẫu nhiên lịch sử. Cha cô, Vương Bính Chương (Wang Bingzhang), đặt cho cô cái tên này để ghi nhớ sự kiện Thiên An Môn tại Trung Quốc. Ông Vương là người sáng lập tạp chí dân chủ hải ngoại mang tên Mùa xuân Trung Hoa năm 1982 khi định cư sau thời gian du học tại Canada. Ông trở về Trung Quốc, lập nên hai đảng đối lập năm 1989 và 1998, sau đó bị trục xuất khỏi nước này. Tháng 6-2002, ông Vương cùng hai cộng sự nhập cảnh vào Việt Nam trong một nỗ lực tiếp xúc với những nhà hoạt động dân chủ khác của Trung Quốc. Tại Việt Nam, ông bị an ninh Trung Quốc bắt giữ và đưa về nước bằng một cách nào đó, và sáu tháng sau, chính phủ Trung Quốc tuyên án tù chung thân đối với ông tại nước này.

Năm 2008, sau khi tốt nghiệp trung học, Ti-Anna ngừng kế hoạch vào đại học, dành trọn một năm đến sống ở Washington DC để tìm cách thuyết phục chính phủ Mỹ và các tổ chức nhân quyền quốc tế hỗ trợ kêu gọi chính phủ Bắc Kinh trả tự do cho ông Vương. Cô viết một lá thư gửi đến nhật báo Washington Post với tựa đề “Đấu tranh đòi tự do cho cha tôi”. Từ lá thư này, Ti-Anna gặp Fred Hiatt.

2. Fred Hiatt khi đó đang biên tập trang xã luận tại Washington Post. Câu chuyện của Ti-Anna, ngôn ngữ thể hiện trong lá thư, và bản thân tên người viết gây ấn tượng đối với ông. Fred cho đăng lá thư, đồng thời hẹn gặp Ti-Anna. Là phóng viên từng thường trú ở Đông Á, Nga, từng được để cử giải Pulitzer cho những bài xã luận về nhân quyền quốc tế, Fred Hiatt nhanh chóng nhận ra ông đang chứng kiến một câu chuyện đời phi thường.

Tháng 4-2013, cuốn truyện dành cho giới trẻ vị thành niên với tựa đề Chín ngày (Nine days) được xuất bản tại Mỹ. Truyện kể về hành trình của hai học sinh lớp 10 bay nửa vòng trái đất từ Washington DC đến Hongkong và Việt Nam để tìm kiếm dấu vết của một người đàn ông bị bắt cóc. Trong truyện, người đàn ông này có tên Chen Jie-min, là một nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc sống tại Mỹ. Một trong hai bạn trẻ lớp 10 là con gái của ông, tên Ti-Anna. Nhân vật còn lại, người xưng “tôi” trong truyện, tên Ethan, là một thiếu niên Mỹ. Tác giả Fred Hiatt đề tặng cuốn truyện cho con trai tên Nate. Bìa sách ghi “Lấy cảm hứng từ một chuyện có thật”.

3. Tôi đọc Chín ngày sau khi nghe bài phỏng vấn của đài NPR với Fred Hiatt và Ti-Anna Wang. Trong buổi phỏng vấn, Ti-Anna cho biết gia đình cô vẫn bay về Trung Quốc thăm bố theo lịch thăm thân định kỳ. Cô cũng cho biết điều cô lo lắng nhất là tình trạng sức khoẻ tinh thần của ông Vương – “cha tôi dường như đã mất hy vọng vào việc mình có thể tìm được tự do”, cô nói trong nước mắt. Fred Hiatt nói mọi chuyện bắt đầu từ ấn tượng mạnh của ông về sự kiên định lặng lẽ của cô gái 19 tuổi mà ông gặp lần đầu tại sảnh khách sạn trên phố 15 ở Washington DC. Với ông, Chín ngày là một cách khác để đánh thức giới trẻ, khơi gợi những ý tưởng về quyền con người, và thu hút sự chú ý của họ đến những vùng đất còn nhiều bất ổn xã hội và chính trị.

4. Không thể dùng lăng kính của người trưởng thành để đánh giá Chín ngày. Cũng không thể hé lộ bất kỳ thông tin nào của cuốn sách để bạn (chưa đọc) mất hứng. Chỉ có thể nói bên lề, rằng Fred Hiatt tả về Hongkong và Hà Nội như là một người đã từng có mặt ở đó. Còn hành trình của Ethan và Ti-Anna, dù chỉ kéo dài chín ngày, là một hành trình đủ đậm để đánh thức sự tò mò – và hy vọng là cả ý thức về những gì đang thật sự diễn ra trên thế giới – của những ai cùng đồng hành với hai bạn trẻ này qua những trang sách.

Vì hai lý do đó, tôi sẽ cho bọn trẻ trong nhà đọc Chín ngày khi chúng đã đủ tuổi để tò mò về thế giới.

Còn dưới đây là một trích đoạn về giao thông Hà Nội:

The streets were narrow, and lined with shops with no doors or walls, spilling their goods onto what would have been the sidewalks – except there were no sidewalks, either. And there were no traffic lights, or traffic policemen or stop signs or, as far as I could see, rules of any kind. What there were: More mopeds, motorcycles and bicycles than you knew existed. Lots of them with two or even three people hanging on, sometimes hefting baskets of mangoes or giant containers of auto parts, all coming at us in an unending river of honks and bells and exhaust.

Ti-Anna and I stood at the corner… and thought: We will never get across. This is where our lives will end. But here’s the thing: You CAN get across. And the way to do it is by just… walking… across. Not too fast, not too slow: the key is, no unpredictable movements. The traffic never stops. It doesn’t even seem to notice. But somehow, it flows around you. The motorcycle drivers have to have faith that you’re going to keep walking across that road, pretty much the same speed you’ve been walking across the road, and you have to have faith that they won’t hit you. The might flow behind you, they migh flow before you, but they won’t hit you. You try not to catch their eyes, either, or even really look at what’s coming. That only confuses things. Instead, you just … keep… walking (p.109-110).

Categories: Whatever

Chuyện chúng ta

10/05/2013 1 comment

Rồi sẽ còn rỉ rả lâu những tranh luận về tình trạng náo loạn của truyền thông tại Mỹ trong tuần rồi kể từ chiều thứ Hai, 15/4, khi thông tin đầu tiên về vụ nổ bom tại Boston được phát đi đồng loạt. Tôi đang trên đường chở con gái đi tập thể dục, nghe đài phát thanh quốc gia NPR liên tục đọc: “Xin nhắc lại, cho đến nay, điều duy nhất mà chúng tôi được biết là đã có hai quả bom phát nổ tại cuộc chạy marathon ở Boston, nhiều người bị thương và có thiệt mạng. Chúng tôi sẽ cập nhật tình hình trong thời gian sớm nhất. Xin khán giả bình tĩnh và tiếp nhận các thông tin theo những nguồn tin chính thức, không bị chi phối bởi hàng loạt thông tin đang truyền tải trên các kênh truyền thông xã hội hiện nay”. Lúc đó là 3:45 phút chiều.

Mười lăm phút sau, khi thả con gái tại phòng tập và chạy một mạch về nhà, tôi – chắc chắn là cũng như hàng triệu người khác trong và ngoài nước Mỹ – cuống cuồng mở điện thoại, máy tính và tivi ra rảo khắp các kênh bất kể chính thống hay không. Thông tin tràn ngập và biến đổi từng phút. Tôi trao đổi với anh xã, liên hệ với bạn bè xung quanh khu vực Boston, rồi dần dần ngập trong dòng thác thông tin cho đến lúc không thể không dừng lại được nữa (vì những việc hàng ngày trong nhà phải động tay đến). Đến cuối ngày, khi tắt điện thoại đi ngủ, tôi mới nhớ đến lời khẩn khoản của phát thanh viên đài NPR buổi chiều. (Cho đến lúc đó, NPR cũng đã rơi vào tình trạng bơi cật lực cho kịp tốc độ đưa tin/tung tin của cả làng).

Kể lể dông dài như thế để tự thừa nhận tôi cũng là thành viên của cái thế giới triệu triệu người tham gia vào cơn lũ thông tin của tuần qua. Điều đơn giản và căn bản nhất của truyền thông là không có người tiếp nhận thì sẽ không có người cung cấp thông tin. Những dòng tin vô căn cứ ban đầu sẽ tắt dần đi nếu không có khán giả nuôi sống chúng với nỗi đói khát lồ lộ, thể hiện qua giao thông trên Internet và bắt sóng/nối mạng truyền hình. Khi tôi háo hức đến như thế – dĩ nhiên là vì trăm ngàn lý do tôi nhận là chính đáng – tôi cũng là tác nhân của mọi thứ mà tôi tiếp nhận. Vì lý do này mà tôi thường hay khựng lại khi đọc những bài chỉ trích, chất vấn, hoặc đòi hỏi vai trò của truyền thông chính thống với người đọc/nghe/xem (nhân tiện, nói thật tình là khái niệm này đến giờ với tôi đã trở nên chẳng còn can hệ gì; công nghệ liên quan đến thông tin đã vượt xa mọi định nghĩa về truyền thông cổ điển từ khá lâu rồi).

Hơn lúc nào hết, lựa chọn tiếp nhận thông tin bằng xem/nghe/đọc đã trở nên dễ dàng và tự nhiên. Có thể ban đầu chúng ta còn choáng ngợp với biển thông tin và không biết làm gì với nó. Nhưng đến giờ thì chẳng còn gì biện giải cho việc tiêu hoá thông tin một cách thiếu cẩn trọng. Chẳng phải với số lượng thời gian tiếp cận công nghệ thông tin cho đến hôm nay, chúng ta đã đến tuổi trưởng thành rồi sao? Còn lăn tăn kiểu “bị kẻ hư chúng nó dụ dỗ chứ cháu có thế đâu” (như ngày xưa các cụ nhà hay biện bạch cho tôi) thì chỉ là biểu hiện của việc chúng ta vẫn đang giẫm chân tại chỗ vị thành niên.

Trong suốt tuần qua, bơi trong cơn lũ thông tin, tôi cố đi tìm cho mình những “cái neo” cần thiết. Tôi tìm đọc về chuyện những người tham gia chạy marathon sau hai đợt bom nổ đã tiếp tục chạy một mạch đến các phòng cấp cứu để tiếp máu (tôi cần câu chuyện này để xoa dịu con bé nhà tôi hoảng hốt vì nghe nói có kẻ xấu vẫn đang ngoài vòng pháp luật và có một bạn gần tuổi đã chết vì bom). Tôi đọc – và giận dữ – về những bài viết nhấn mạnh quá khứ tị nạn của hai kẻ bị tình nghi mà làm nhẹ yếu tố một trong hai người này đã chính thức trở thành công dân Mỹ, về chuyện bạn bè của người này bảo “hắn nói tiếng Anh ít có dấu vết người nước ngoài lắm, hắn luôn cố nhập cuộc, hắn ăn mặc giống như một thanh niên Mỹ điển hình” (bản thân những bình luận kiểu này đã mang dấu vết phân biệt tinh vi).

Cuối cùng, sau khi mọi ồn ào đã tạm lắng xuống trong ngày hôm qua, tôi chọn giữ lại cho mình câu nói của TT Obama trong cuộc họp báo đêm 19/4 như một “mỏ neo” chính.

“In this age of instant reporting – tweets and blogs, there is a temptation to latch onto any bit of information, sometimes to jump to conclusion. But, when a tragedy like this happens, with public safety at risk and the stake so high, it is important that we do it right… That’s why we take care not to rush to judgment… certainly not about the entire group of people… After all, what makes… Boston great is that we welcome every religion, every ethnicity, people from all over the world… Let’s make sure that we sustain that spirit.” (Trong thời buổi thông tin tức thời như hiện nay, chúng ta dễ có khuynh hướng bám lấy thông tin bất kỳ, và đôi khi đưa ra kết luận vội vàng. Tuy nhiên, khi một bi kịch như thế này xảy ra… quan trọng nhất là chúng ta phải xử lý cho đúng đắn… Vì thế mà chúng ta cần bảo đảm không đưa ra một chỉ trích hấp tấp nào… đặc biệt là chỉ trích cả một cộng đồng … Nói cho cùng, điểm tốt đẹp của Boston là thành phố này chào đón mọi tôn giáo, mọi dân tộc, mọi người đến từ mọi nơi trên thế giới… Hãy bảo đảm là chúng ta tiếp tục giữ cho được tinh thần tốt đẹp đó)boston-boming-cartoon-luckovich-495x363

Categories: Ý tưởng, Tiếng Việt, Xa

Sống đã thành Sông

1. Hai truyện tiếng Việt cuối cùng mà tôi đọc từ đầu đến cuối là Cánh đồng bất tận và Sông. Cả hai đều đọc muộn, tức là sau khi mọi rúng động trong hồ nước đã lặn. Giữa hai lần đọc, tôi có gặp NNT một lần, ngắn ngủi, không riêng tư.

2. NNT đặt trước mặt tôi một nhân vật (Ân) với một mớ hành lý nặng nề. “Mớ hành lý” là do tôi dịch từ chữ baggage, nảy ra trong đầu tôi khi bắt đầu đi cùng với Ân qua những trang sách. Hành lý ở đây là một quá khứ mà NNT (dường như) cho là phức tạp. Là người tình (đã tưởng đồng hành muôn đời lại bỏ phắt đi lấy vợ, lấy vợ xong lại nhì nhằng đòi ôm ấp tiếp). Là mẹ (vừa đòi con lấy vợ vừa đòi con sửa hàng rào, rồi lại còn thích khoe chuyện giai với con để thể hiện tình mẫu tử). Là môi trường làm việc (làng báo, đa phần là lá cải, có hẳn vài ví dụ dùng chữ – lộ hàng, tốc váy – để cho rõ là lá cải) và đồng nghiệp (ai cũng được giới thiệu qua, kèm theo “mớ hành lý” của riêng họ, nghe chừng cũng phức tạp không kém).

3. Ân lên đường. Đi dọc sông Di. NNT chẳng cho người đọc chọn lựa nào khác ngoài việc phải đi theo Ân. Tốc độ đi của Ân được NNT ấn định bằng từ “trôi”, là từ được dùng nhiều trong 222 trang sách. Đi thì phải gặp, phải va chạm, phải tiếp xúc. Thế là NNT cũng “yêu cầu” người đọc gặp, chạm, và tiếp cùng với Ân. Cứ vài ba trang lại xong một cuộc giao thoa như thế. Read more…

Categories: Tiếng Việt, Xa

(Thêm) một cuốn sách sử, (thêm) một bước đến gần sự thật

Kill anything...(góc trái phía dưới) trên kệ sách lịch sử tại hiệu sách Barnes & Nobles.

Kill anything…(góc trái phía dưới) trên kệ sách lịch sử tại hiệu sách Barnes & Nobles.

Ngày 15/1 vừa qua, thêm một cuốn sách về chiến tranh Việt Nam được phát hành tại Mỹ. Kill anything that moves: The Real American War in Vietnam (Động là giết: Cuộc chiến thật sự của Mỹ tại Việt Nam) được phóng viên kiêm sử gia Nick Turse phát triển từ bản luận văn tiến sĩ bảo vệ năm 2005 tại Đại học Columbia.

Trong lời mở đầu, Nick Turse khẳng định: “… Qui mô kinh hoàng của những nỗi đau khổ của thường dân (Việt Nam) vượt quá bất kỳ điều gì có thể biện minh bằng lý lẽ “con sâu làm rầu nồi canh”… Sát hại, tra tấn, cưỡng hiếp, bạo hành, cưỡng bức di dời, đốt nhà, bắt bớ, cầm tù vô tội vạ – những sự việc như thế đã trở thành thực tế hàng ngày trong suốt những năm người Mỹ hiện diện tại Việt Nam… Đây không chỉ là những trường hợp cá biệt, mà là hậu quả tất yếu của những chính sách có chủ đích, được chỉ đạo từ những cấp bậc cao nhất trong quân đội (Mỹ).” (trang 6).

Luận điểm trung tâm này – được viết bằng ngôn ngữ hàn lâm đặc trưng – đã được tác giả chứng minh bằng các phương pháp thông dụng trong ngành sử học: khai thác tài liệu lưu trữ, phỏng vấn nhân chứng và người trong cuộc, kiểm tra đối chiếu các nguồn thông tin… Là một nhà báo lão luyện từng nhận nhiều giải thưởng báo chí quốc gia, Nick Turse khai thác tối đa thế mạnh của người làm báo trong tác phẩm của mình, trực tiếp phỏng vấn từ những cựu quan chức cấp cao trong quân đội Mỹ, những cựu binh trực tiếp can dự đến những tội ác, đến những nhân chứng lịch sử – những thường dân hiện vẫn đang sống trên mảnh đất miền Nam Việt Nam. Read more…

Categories: Tiếng Việt, Xa

My daughter, me, and the Malala story

23/10/2012 2 comments

Last night, I told Han the story of Malala Yousafzai – the 14 years old Pakistani girl who still fights for recovery from a gun shot to the head by the Taliban. Han loves fairy tales, and she loves real-life stories too. At bedtime, she usually asks me to tell her one real-life story, then compares it to her own experience if she has one, or follows up by tens of whys and hows. Last night, she learned that Taliban is a group of bad men who punished Malala for wanting all girls to get a good education. As I finished the story, her first question was, “but why the bad men didn’t want girl education?.”

So I told her, in simple language, that it was because they wanted the girls to be ignorant so they could control them. Immediately Han said, “that’s bully, that’s not fair.” The story seemed to hit home for her, especially when she learned that Malala was on a school bus when she got shot (“was it a yellow bus too, Mama?”). She couldn’t relate to a faraway region called Swat Valley, but she could feel for a tragedy happening on a school bus. She could also put things in perspective when she learned about Malala hiding books in her clothes (“I don’t have to hide my books!”), and about schools getting closed down permanently (“but how can they learn when the school closes?”).

Earlier in the day, I almost erupted in fury when Han came home with her first math test. She got 3 out of 12 questions wrong. I could tell, as usual, she didn’t pay adequate attention to the test – counting 3 plus 5 as 9. She saw the look on my face and started crying – “but I didn’t mean to (do it wrong), I didn’t even know they were wrong, Ms. M didn’t show us the answer.” Right then, it hit me. At school, a six-year-old doesn’t get to realize she’s wrong – after a math practice, the teacher would show the right answers, and the kids would check to see if their answers are correct, if not, they erase the wrong ones and put in the right. “Wrong” becomes “a mistake,” something easily fixed by an eraser. I have a big problem with that, just as I had a big problem a while ago with her coming home with the just-right books that she read fluently simply because she quickly memorized every single word.

But I also realized it was not her fault after all. The significance of a right (math) answer has never been communicated to her. The difference between the confidence of reading a memorized book and that of reading any (new) book has also never been taught to her. As a six years old having it nice and easy, Han never had a chance to realize the real challenges of learning. She doesn’t get to appreciate the sweats and tears, and thus doesn’t have the joy of overcoming them.

So, instead of nagging her for the 3 wrong math answers, I decided to tell her the Malala story. Its immediate implication might be a far cry from counting or reading right. She might not be able to grasp the gravity of the story. But I hoped as she realizes she’s fortunate enough to be able to do freely the things million others can only wish to do, she would at least take her learning a little more seriously. As seriously as a six years old could get.

Last night, when I told her to pay more attention to the things she learns knowing that she’s fortunate enough to be able to learn them, Han said, “today we learn substraction in school, isn’t that cool?”

Categories: English, Inner Circle, Thoughts

Hay là thiết kế lại giấc mơ?

08/12/2011 13 comments

Hôm qua, một cô bạn của tôi lên Facebook than thở rằng bạn của cô ấy, một bậc “trung lưu điển hình” của Mỹ, vừa phải bán đi căn nhà dưới mức giá trị lúc mua, dọn vào một căn hộ cùng vợ và ba người con, với lý do là làm không đủ tiền để chi trả cho căn nhà cũ nữa, còn nếu chịu khó ở căn hộ thì may ra còn có khả năng hàng năm đi nghỉ dưỡng ở đâu đó.

(Với những ai không sống ở Mỹ, tôi xin phép giải thích sơ qua về những chi tiết của đoạn viết trên cho có ngọn ngành hơn. “Căn nhà” ở đây có nghĩa là một single-family house, nói nôm na theo kiểu VN ta là nhà riêng. “Căn hộ” tức là một cái apartment, VN ta cũng gọi là căn hộ. “Bán nhà dưới mức giá trị” có lẽ không rõ ràng lắm – ở đây có ý là shortsale, theo hệ thống buôn bán bất động sản phức tạp của Mỹ là ngân hàng đã từng cho mượn tiền mua nhà giờ chấp nhận cho bán nhà với mức thấp hơn mức mua, và bỏ qua không đòi số tiền chênh lệch mà chủ nhà thiếu nợ ngân hàng. Còn “nghỉ dưỡng” ở đây có ý nói về vacation – một phần không thể thiếu của lối sống trung lưu Mỹ.)

Cô bạn tôi kết luận, cô ấy ngày càng mất niềm tin về cái gọi là Giấc mơ Mỹ. Lý do: một viên chức trung lưu như bạn cô ấy, dù chăm chỉ làm ăn, không còn khả năng đạt được mức sống như “giấc mơ Mỹ” vẫn hứa hẹn nữa.

Còn tôi thì hình dung, bạn của cô bạn tôi, giống như hàng triệu người Mỹ khác đang bất mãn vì tan vỡ giấc mơ Mỹ, đang kêu ca vì mất đi những gì. Họ mất đi một căn nhà có diện tích tối thiểu là 180-200 mét vuông, có vườn phía trước sân chơi phía sau, có thể còn có cả một hồ bơi 7-10 mét, có garage để được hai chiếc xe hơi, 3-4 phòng ngủ và 2-3 phòng tắm, một nhà bếp, một phòng ăn, một phòng khách, một phòng dành cho gia đình, và một tầng hầm to bằng diện tích sàn. Từ nơi đó, họ sẽ phải chuyển vào một căn hộ có diện tích 120-150 mét vuông, thiếu vườn riêng sân chơi riêng hồ bơi riêng, thiếu garage ngay sát cửa ra vào, thiếu đi một phòng ngủ và một phòng tắm so với nhà cũ, thiếu luôn một phòng dành cho gia đình. Sân chơi và hồ bơi phải dùng chung với chừng 20 hộ xung quanh.

Đổi lấy cuộc sống “chật vật” ấy, hàng năm, họ sẽ sắp xếp được một chuyến đi nghỉ cho cả gia đình, có lẽ là một chuyến đi biển nào đó trong vùng Caribe. Hoặc một chuyến đi Las Vegas. Hoặc một chuyến đi tàu trên đại dương.

Đến là khổ.

Theo Cục thống kê Mỹ, năm 2010, có 46.2 triệu người Mỹ (chiếm 15.1% dân số) rơi vào tình trạng nghèo đói. Tuy nhiên, không thể dùng đến ngưỡng nghèo đói bần hàn như vẫn thường thấy ở nhiều phần còn lại của thế giới để nói chuyện về nước Mỹ, vì đó vốn là ngưỡng mà một người Mỹ nghèo trung bình không bao giờ chạm tới. Hệ thống phúc lợi Mỹ, dù luôn bị người Mỹ phàn nàn là tệ hơn châu Âu hoặc Canada, tạo ra một lớp “lưới an toàn” cho người nghèo trong nước qua các bếp ăn miễn phí, nơi cư ngụ tạm thời miễn phí, trợ cấp giao thông miễn phí – ba thành phần căn bản của một cuộc sống tối thiểu. (Xem thêm hai tài liệu này về đói nghèo toàn cầuđói nghèo ở nước Mỹ).

Ngay cả ngưỡng “chật vật” (cái mà người Mỹ hay gọi là struggle to make ends meet), người Mỹ cũng không bao giờ chạm tới sự chật vật của nhiều phần khác trên trái đất này. Một phóng sự về đói nghèo trên nước Mỹ của hãng truyền hình NBC tuần rồi giới thiệu chân dung một gia đình Mỹ nghèo phải nhận trợ cấp lương thực (dưới hình thức food stamps). Gia đình này sống trong một căn hộ có ít nhất hai phòng ngủ, đi xe hơi Dodge bóng lộn, đến sinh nhật con vẫn mua được một bánh kem to cả nhà ăn không hết. Nhưng họ vẫn than phiền là không có tiền mua sách cho con đọc. Họ rơi nước mắt tủi thân vì điều đó. Trả lời phỏng vấn của phóng viên, họ nói rằng khi sự nghèo đói bắt buộc họ phải lựa chọn từ chối một trong hai niềm vui của con (quà sinh nhật >< sách) là đã chà đạp vào lòng tự trọng của con người.

Một giấc mơ mà trong đó con người không phải lựa chọn gạt bỏ bất kỳ một nhu cầu nào để ưu tiên cho một nhu cầu khác (thiết thực hơn), đó có phải là một giấc mơ lành mạnh hay không?

Giấc mơ Mỹ là lời hứa hẹn về cơ hội được sống trong tự do, công bằng và thịnh vượng. Nhưng giấc mơ Mỹ không có định mức cụ thể cho cả ba thành tố đó. Nói một cách khác, mỗi người tự ấn định cho mình một kỳ vọng (và niềm tin vào những thứ mà họ xứng đáng được hưởng) khi “thiết kế” ra giấc mơ cho chính mình. Đôi khi, giấc mơ có tan vỡ hay không phụ thuộc vào chính thiết kế mang tính cá nhân đó.

Một cựu binh Mỹ mà tôi được dịp trò chuyện, thuộc thành phần trung lưu, cho biết ông quyết định không mua nhà, chỉ thuê căn hộ để sống, vì ông muốn dùng tiền cho con gái mình đi du lịch mỗi khi có dịp. Ông nói, ngay cả đưa con đi một vùng cách nhà 20 phút, ông cũng gọi đó là đi du lịch (“travel”), là một dịp để học một điều gì đó mới mẻ hơn. Con gái ông, năm nay chưa tròn 10 tuổi, được ông cho học 2 ngoại ngữ, được tham dự trại hè ở châu Á, hàng ngày được đọc sách tư liệu cùng ông. Đưa con ra công viên công cộng, ngồi nhìn con thoăn thoắt leo trèo, ông bảo: “I think she’s gonna be ok” (“Tôi nghĩ con bé rồi sẽ ổn thôi”).

Categories: Tiếng Việt, Xa
%d bloggers like this: