Archive

Archive for the ‘Ý tưởng’ Category

Chuyện chúng ta

10/05/2013 1 comment

Rồi sẽ còn rỉ rả lâu những tranh luận về tình trạng náo loạn của truyền thông tại Mỹ trong tuần rồi kể từ chiều thứ Hai, 15/4, khi thông tin đầu tiên về vụ nổ bom tại Boston được phát đi đồng loạt. Tôi đang trên đường chở con gái đi tập thể dục, nghe đài phát thanh quốc gia NPR liên tục đọc: “Xin nhắc lại, cho đến nay, điều duy nhất mà chúng tôi được biết là đã có hai quả bom phát nổ tại cuộc chạy marathon ở Boston, nhiều người bị thương và có thiệt mạng. Chúng tôi sẽ cập nhật tình hình trong thời gian sớm nhất. Xin khán giả bình tĩnh và tiếp nhận các thông tin theo những nguồn tin chính thức, không bị chi phối bởi hàng loạt thông tin đang truyền tải trên các kênh truyền thông xã hội hiện nay”. Lúc đó là 3:45 phút chiều.

Mười lăm phút sau, khi thả con gái tại phòng tập và chạy một mạch về nhà, tôi – chắc chắn là cũng như hàng triệu người khác trong và ngoài nước Mỹ – cuống cuồng mở điện thoại, máy tính và tivi ra rảo khắp các kênh bất kể chính thống hay không. Thông tin tràn ngập và biến đổi từng phút. Tôi trao đổi với anh xã, liên hệ với bạn bè xung quanh khu vực Boston, rồi dần dần ngập trong dòng thác thông tin cho đến lúc không thể không dừng lại được nữa (vì những việc hàng ngày trong nhà phải động tay đến). Đến cuối ngày, khi tắt điện thoại đi ngủ, tôi mới nhớ đến lời khẩn khoản của phát thanh viên đài NPR buổi chiều. (Cho đến lúc đó, NPR cũng đã rơi vào tình trạng bơi cật lực cho kịp tốc độ đưa tin/tung tin của cả làng).

Kể lể dông dài như thế để tự thừa nhận tôi cũng là thành viên của cái thế giới triệu triệu người tham gia vào cơn lũ thông tin của tuần qua. Điều đơn giản và căn bản nhất của truyền thông là không có người tiếp nhận thì sẽ không có người cung cấp thông tin. Những dòng tin vô căn cứ ban đầu sẽ tắt dần đi nếu không có khán giả nuôi sống chúng với nỗi đói khát lồ lộ, thể hiện qua giao thông trên Internet và bắt sóng/nối mạng truyền hình. Khi tôi háo hức đến như thế – dĩ nhiên là vì trăm ngàn lý do tôi nhận là chính đáng – tôi cũng là tác nhân của mọi thứ mà tôi tiếp nhận. Vì lý do này mà tôi thường hay khựng lại khi đọc những bài chỉ trích, chất vấn, hoặc đòi hỏi vai trò của truyền thông chính thống với người đọc/nghe/xem (nhân tiện, nói thật tình là khái niệm này đến giờ với tôi đã trở nên chẳng còn can hệ gì; công nghệ liên quan đến thông tin đã vượt xa mọi định nghĩa về truyền thông cổ điển từ khá lâu rồi).

Hơn lúc nào hết, lựa chọn tiếp nhận thông tin bằng xem/nghe/đọc đã trở nên dễ dàng và tự nhiên. Có thể ban đầu chúng ta còn choáng ngợp với biển thông tin và không biết làm gì với nó. Nhưng đến giờ thì chẳng còn gì biện giải cho việc tiêu hoá thông tin một cách thiếu cẩn trọng. Chẳng phải với số lượng thời gian tiếp cận công nghệ thông tin cho đến hôm nay, chúng ta đã đến tuổi trưởng thành rồi sao? Còn lăn tăn kiểu “bị kẻ hư chúng nó dụ dỗ chứ cháu có thế đâu” (như ngày xưa các cụ nhà hay biện bạch cho tôi) thì chỉ là biểu hiện của việc chúng ta vẫn đang giẫm chân tại chỗ vị thành niên.

Trong suốt tuần qua, bơi trong cơn lũ thông tin, tôi cố đi tìm cho mình những “cái neo” cần thiết. Tôi tìm đọc về chuyện những người tham gia chạy marathon sau hai đợt bom nổ đã tiếp tục chạy một mạch đến các phòng cấp cứu để tiếp máu (tôi cần câu chuyện này để xoa dịu con bé nhà tôi hoảng hốt vì nghe nói có kẻ xấu vẫn đang ngoài vòng pháp luật và có một bạn gần tuổi đã chết vì bom). Tôi đọc – và giận dữ – về những bài viết nhấn mạnh quá khứ tị nạn của hai kẻ bị tình nghi mà làm nhẹ yếu tố một trong hai người này đã chính thức trở thành công dân Mỹ, về chuyện bạn bè của người này bảo “hắn nói tiếng Anh ít có dấu vết người nước ngoài lắm, hắn luôn cố nhập cuộc, hắn ăn mặc giống như một thanh niên Mỹ điển hình” (bản thân những bình luận kiểu này đã mang dấu vết phân biệt tinh vi).

Cuối cùng, sau khi mọi ồn ào đã tạm lắng xuống trong ngày hôm qua, tôi chọn giữ lại cho mình câu nói của TT Obama trong cuộc họp báo đêm 19/4 như một “mỏ neo” chính.

“In this age of instant reporting – tweets and blogs, there is a temptation to latch onto any bit of information, sometimes to jump to conclusion. But, when a tragedy like this happens, with public safety at risk and the stake so high, it is important that we do it right… That’s why we take care not to rush to judgment… certainly not about the entire group of people… After all, what makes… Boston great is that we welcome every religion, every ethnicity, people from all over the world… Let’s make sure that we sustain that spirit.” (Trong thời buổi thông tin tức thời như hiện nay, chúng ta dễ có khuynh hướng bám lấy thông tin bất kỳ, và đôi khi đưa ra kết luận vội vàng. Tuy nhiên, khi một bi kịch như thế này xảy ra… quan trọng nhất là chúng ta phải xử lý cho đúng đắn… Vì thế mà chúng ta cần bảo đảm không đưa ra một chỉ trích hấp tấp nào… đặc biệt là chỉ trích cả một cộng đồng … Nói cho cùng, điểm tốt đẹp của Boston là thành phố này chào đón mọi tôn giáo, mọi dân tộc, mọi người đến từ mọi nơi trên thế giới… Hãy bảo đảm là chúng ta tiếp tục giữ cho được tinh thần tốt đẹp đó)boston-boming-cartoon-luckovich-495x363

Categories: Ý tưởng, Tiếng Việt, Xa

Sống đã thành Sông

1. Hai truyện tiếng Việt cuối cùng mà tôi đọc từ đầu đến cuối là Cánh đồng bất tận và Sông. Cả hai đều đọc muộn, tức là sau khi mọi rúng động trong hồ nước đã lặn. Giữa hai lần đọc, tôi có gặp NNT một lần, ngắn ngủi, không riêng tư.

2. NNT đặt trước mặt tôi một nhân vật (Ân) với một mớ hành lý nặng nề. “Mớ hành lý” là do tôi dịch từ chữ baggage, nảy ra trong đầu tôi khi bắt đầu đi cùng với Ân qua những trang sách. Hành lý ở đây là một quá khứ mà NNT (dường như) cho là phức tạp. Là người tình (đã tưởng đồng hành muôn đời lại bỏ phắt đi lấy vợ, lấy vợ xong lại nhì nhằng đòi ôm ấp tiếp). Là mẹ (vừa đòi con lấy vợ vừa đòi con sửa hàng rào, rồi lại còn thích khoe chuyện giai với con để thể hiện tình mẫu tử). Là môi trường làm việc (làng báo, đa phần là lá cải, có hẳn vài ví dụ dùng chữ – lộ hàng, tốc váy – để cho rõ là lá cải) và đồng nghiệp (ai cũng được giới thiệu qua, kèm theo “mớ hành lý” của riêng họ, nghe chừng cũng phức tạp không kém).

3. Ân lên đường. Đi dọc sông Di. NNT chẳng cho người đọc chọn lựa nào khác ngoài việc phải đi theo Ân. Tốc độ đi của Ân được NNT ấn định bằng từ “trôi”, là từ được dùng nhiều trong 222 trang sách. Đi thì phải gặp, phải va chạm, phải tiếp xúc. Thế là NNT cũng “yêu cầu” người đọc gặp, chạm, và tiếp cùng với Ân. Cứ vài ba trang lại xong một cuộc giao thoa như thế. Read more…

Categories: Tiếng Việt, Xa

(Thêm) một cuốn sách sử, (thêm) một bước đến gần sự thật

Kill anything...(góc trái phía dưới) trên kệ sách lịch sử tại hiệu sách Barnes & Nobles.

Kill anything…(góc trái phía dưới) trên kệ sách lịch sử tại hiệu sách Barnes & Nobles.

Ngày 15/1 vừa qua, thêm một cuốn sách về chiến tranh Việt Nam được phát hành tại Mỹ. Kill anything that moves: The Real American War in Vietnam (Động là giết: Cuộc chiến thật sự của Mỹ tại Việt Nam) được phóng viên kiêm sử gia Nick Turse phát triển từ bản luận văn tiến sĩ bảo vệ năm 2005 tại Đại học Columbia.

Trong lời mở đầu, Nick Turse khẳng định: “… Qui mô kinh hoàng của những nỗi đau khổ của thường dân (Việt Nam) vượt quá bất kỳ điều gì có thể biện minh bằng lý lẽ “con sâu làm rầu nồi canh”… Sát hại, tra tấn, cưỡng hiếp, bạo hành, cưỡng bức di dời, đốt nhà, bắt bớ, cầm tù vô tội vạ – những sự việc như thế đã trở thành thực tế hàng ngày trong suốt những năm người Mỹ hiện diện tại Việt Nam… Đây không chỉ là những trường hợp cá biệt, mà là hậu quả tất yếu của những chính sách có chủ đích, được chỉ đạo từ những cấp bậc cao nhất trong quân đội (Mỹ).” (trang 6).

Luận điểm trung tâm này – được viết bằng ngôn ngữ hàn lâm đặc trưng – đã được tác giả chứng minh bằng các phương pháp thông dụng trong ngành sử học: khai thác tài liệu lưu trữ, phỏng vấn nhân chứng và người trong cuộc, kiểm tra đối chiếu các nguồn thông tin… Là một nhà báo lão luyện từng nhận nhiều giải thưởng báo chí quốc gia, Nick Turse khai thác tối đa thế mạnh của người làm báo trong tác phẩm của mình, trực tiếp phỏng vấn từ những cựu quan chức cấp cao trong quân đội Mỹ, những cựu binh trực tiếp can dự đến những tội ác, đến những nhân chứng lịch sử – những thường dân hiện vẫn đang sống trên mảnh đất miền Nam Việt Nam. Read more…

Categories: Tiếng Việt, Xa

Hay là thiết kế lại giấc mơ?

08/12/2011 13 comments

Hôm qua, một cô bạn của tôi lên Facebook than thở rằng bạn của cô ấy, một bậc “trung lưu điển hình” của Mỹ, vừa phải bán đi căn nhà dưới mức giá trị lúc mua, dọn vào một căn hộ cùng vợ và ba người con, với lý do là làm không đủ tiền để chi trả cho căn nhà cũ nữa, còn nếu chịu khó ở căn hộ thì may ra còn có khả năng hàng năm đi nghỉ dưỡng ở đâu đó.

(Với những ai không sống ở Mỹ, tôi xin phép giải thích sơ qua về những chi tiết của đoạn viết trên cho có ngọn ngành hơn. “Căn nhà” ở đây có nghĩa là một single-family house, nói nôm na theo kiểu VN ta là nhà riêng. “Căn hộ” tức là một cái apartment, VN ta cũng gọi là căn hộ. “Bán nhà dưới mức giá trị” có lẽ không rõ ràng lắm – ở đây có ý là shortsale, theo hệ thống buôn bán bất động sản phức tạp của Mỹ là ngân hàng đã từng cho mượn tiền mua nhà giờ chấp nhận cho bán nhà với mức thấp hơn mức mua, và bỏ qua không đòi số tiền chênh lệch mà chủ nhà thiếu nợ ngân hàng. Còn “nghỉ dưỡng” ở đây có ý nói về vacation – một phần không thể thiếu của lối sống trung lưu Mỹ.)

Cô bạn tôi kết luận, cô ấy ngày càng mất niềm tin về cái gọi là Giấc mơ Mỹ. Lý do: một viên chức trung lưu như bạn cô ấy, dù chăm chỉ làm ăn, không còn khả năng đạt được mức sống như “giấc mơ Mỹ” vẫn hứa hẹn nữa.

Còn tôi thì hình dung, bạn của cô bạn tôi, giống như hàng triệu người Mỹ khác đang bất mãn vì tan vỡ giấc mơ Mỹ, đang kêu ca vì mất đi những gì. Họ mất đi một căn nhà có diện tích tối thiểu là 180-200 mét vuông, có vườn phía trước sân chơi phía sau, có thể còn có cả một hồ bơi 7-10 mét, có garage để được hai chiếc xe hơi, 3-4 phòng ngủ và 2-3 phòng tắm, một nhà bếp, một phòng ăn, một phòng khách, một phòng dành cho gia đình, và một tầng hầm to bằng diện tích sàn. Từ nơi đó, họ sẽ phải chuyển vào một căn hộ có diện tích 120-150 mét vuông, thiếu vườn riêng sân chơi riêng hồ bơi riêng, thiếu garage ngay sát cửa ra vào, thiếu đi một phòng ngủ và một phòng tắm so với nhà cũ, thiếu luôn một phòng dành cho gia đình. Sân chơi và hồ bơi phải dùng chung với chừng 20 hộ xung quanh.

Đổi lấy cuộc sống “chật vật” ấy, hàng năm, họ sẽ sắp xếp được một chuyến đi nghỉ cho cả gia đình, có lẽ là một chuyến đi biển nào đó trong vùng Caribe. Hoặc một chuyến đi Las Vegas. Hoặc một chuyến đi tàu trên đại dương.

Đến là khổ.

Theo Cục thống kê Mỹ, năm 2010, có 46.2 triệu người Mỹ (chiếm 15.1% dân số) rơi vào tình trạng nghèo đói. Tuy nhiên, không thể dùng đến ngưỡng nghèo đói bần hàn như vẫn thường thấy ở nhiều phần còn lại của thế giới để nói chuyện về nước Mỹ, vì đó vốn là ngưỡng mà một người Mỹ nghèo trung bình không bao giờ chạm tới. Hệ thống phúc lợi Mỹ, dù luôn bị người Mỹ phàn nàn là tệ hơn châu Âu hoặc Canada, tạo ra một lớp “lưới an toàn” cho người nghèo trong nước qua các bếp ăn miễn phí, nơi cư ngụ tạm thời miễn phí, trợ cấp giao thông miễn phí – ba thành phần căn bản của một cuộc sống tối thiểu. (Xem thêm hai tài liệu này về đói nghèo toàn cầuđói nghèo ở nước Mỹ).

Ngay cả ngưỡng “chật vật” (cái mà người Mỹ hay gọi là struggle to make ends meet), người Mỹ cũng không bao giờ chạm tới sự chật vật của nhiều phần khác trên trái đất này. Một phóng sự về đói nghèo trên nước Mỹ của hãng truyền hình NBC tuần rồi giới thiệu chân dung một gia đình Mỹ nghèo phải nhận trợ cấp lương thực (dưới hình thức food stamps). Gia đình này sống trong một căn hộ có ít nhất hai phòng ngủ, đi xe hơi Dodge bóng lộn, đến sinh nhật con vẫn mua được một bánh kem to cả nhà ăn không hết. Nhưng họ vẫn than phiền là không có tiền mua sách cho con đọc. Họ rơi nước mắt tủi thân vì điều đó. Trả lời phỏng vấn của phóng viên, họ nói rằng khi sự nghèo đói bắt buộc họ phải lựa chọn từ chối một trong hai niềm vui của con (quà sinh nhật >< sách) là đã chà đạp vào lòng tự trọng của con người.

Một giấc mơ mà trong đó con người không phải lựa chọn gạt bỏ bất kỳ một nhu cầu nào để ưu tiên cho một nhu cầu khác (thiết thực hơn), đó có phải là một giấc mơ lành mạnh hay không?

Giấc mơ Mỹ là lời hứa hẹn về cơ hội được sống trong tự do, công bằng và thịnh vượng. Nhưng giấc mơ Mỹ không có định mức cụ thể cho cả ba thành tố đó. Nói một cách khác, mỗi người tự ấn định cho mình một kỳ vọng (và niềm tin vào những thứ mà họ xứng đáng được hưởng) khi “thiết kế” ra giấc mơ cho chính mình. Đôi khi, giấc mơ có tan vỡ hay không phụ thuộc vào chính thiết kế mang tính cá nhân đó.

Một cựu binh Mỹ mà tôi được dịp trò chuyện, thuộc thành phần trung lưu, cho biết ông quyết định không mua nhà, chỉ thuê căn hộ để sống, vì ông muốn dùng tiền cho con gái mình đi du lịch mỗi khi có dịp. Ông nói, ngay cả đưa con đi một vùng cách nhà 20 phút, ông cũng gọi đó là đi du lịch (“travel”), là một dịp để học một điều gì đó mới mẻ hơn. Con gái ông, năm nay chưa tròn 10 tuổi, được ông cho học 2 ngoại ngữ, được tham dự trại hè ở châu Á, hàng ngày được đọc sách tư liệu cùng ông. Đưa con ra công viên công cộng, ngồi nhìn con thoăn thoắt leo trèo, ông bảo: “I think she’s gonna be ok” (“Tôi nghĩ con bé rồi sẽ ổn thôi”).

Categories: Tiếng Việt, Xa

Hồi ký Steve Jobs (3): Đẹp

28/10/2011 9 comments

Rốt cuộc, điều gì khiến bác Steve khác người – khác hơn cả những người khác thường lừng danh như Bill Gates, Larry Page, hay Mark Zuckerberg? Bác là người tuyệt đối duy mỹ. Mà không chỉ duy mỹ theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, thấy cái gì đẹp là thích, bác Steve duy mỹ đến mức buộc tất cả mọi thứ mà bác chạm đến (bằng tay, bằng tai hay bằng mắt) đều phải đẹp hết mức có thể theo thẩm mỹ của bác. Đây chính là lý do làm cho các sản phẩm của Apple không chỉ ưu việt về tính năng mà còn nổi bật về thẩm mỹ. Cuốn hồi ký Steve Jobs cung cấp nhiều ví dụ về sự mềm lòng của bác trước những thứ (bác coi là) đẹp, và sự quyết liệt của bác trong việc tận dụng cái đẹp đó.

Một mẫu thiết kế cửa hiệu Apple

Người gieo hạt giống duy mỹ đầu tiên trong đời bác Steve là bố nuôi của bác, một thợ cơ khí bình thường vùng California. Bác Steve cho biết kể từ khi còn nhỏ, bác đã được bố nuôi cho mày mò xem các thiết kế máy móc – “bố tôi quan tâm đến việc làm cho hoàn hảo về hình thức cả những chi tiết mà mắt người sử dụng không nhìn thấy”, bác nói. Người thứ hai là nhà kinh doanh địa ốc tên Joseph Eichler, chủ một công ty địa ốc thiết kế hàng nghìn nhà tại California từ 1950-1974. Những ngôi nhà theo thiết kế của Eichler thường không quá đắt, theo phong cách mở, tường kính từ sàn lên đến trần, cấu trúc cột và xà nhà lộ thiên, sàn đá tảng hoặc măng và cửa kính trượt. Những chi tiết như thế gây ấn tượng mạnh trong đầu cậu bé Steve và kích thích đam mê thiết kế của cậu từ thời niên thiếu; sau này, các thiết kế cửa hàng Apple mang cùng nguyên tắc mở, tối giản, sử dụng sàn đá hoặc xi măng.

Từ thời trẻ bác Steve đã say mê xe hơi Porsche và Mercedes, xe máy BMW, dao Henckels, thiết bị gia đình của Braun, đàn dương cầm Bosendorfer, và thiết bị âm thanh của Bang & Olufsen. Hầu hết các hãng có thiết kế bác thích nằm ở châu Âu (Đức, Áo, Đan Mạch,…). Ngay cả lúc có nhiều tiền, bác cũng không đổi gu của mình sang dòng sản phẩm hào nhoáng hơn. Bác bảo một số người trong công ty bác bỗng nhiên giàu lên là bắt đầu đi Rolls-Royce và đem vợ đi giải phẩu thẩm mỹ rồi “biến thành những người quái gở”, bác quyết không đi theo con đường đó.

Cái đẹp, với bác Steve, không thể không gắn liền với tiện ích. Touchpad của Apple ngày nay là đỉnh cao của việc điều khiển mọi thứ trên màn hình bằng cách di chuyển các ngón tay. Thời kỳ đầu của máy tính Apple, khi mà mọi người vẫn đang sử dụng con chuột có hai bánh xe để di chuyển con trỏ phải-trái, trên-dưới, bác Steve đã nghĩ ra việc con trỏ cần phải di chuyển theo mọi hướng chứ không chỉ bốn chiều. Bác nói chuyện với các kỹ sư, một trong số đó bảo với bác không làm thế được, bác nổi giận đùng đùng sa thải anh chàng không may kia tức thì, và tuyên bố “tôi sẽ làm con chuột (di chuyển mọi hướng)”. Con chuột gắn quả bóng phía dưới thay vì gắn hai bánh xe ra đời từ đó. Những chuyện tương tự như thế liên tục diễn ra trong công ty Apple. Với bác Steve, ai không đạt được chuẩn về thẩm mỹ+tiện ích mà bác đòi hỏi là loại vứt đi – “họ không biết cách làm nghệ thuật, họ chỉ biết làm ra cứt” là cách bác mắng những người không may làm tổn thương lòng duy mỹ của bác.

Qua thời gian, bác Steve biến gu thẩm mỹ cá nhân của mình thành triết lý thiết kế của công ty. Từ năm 1981, bác tham gia đều đặn Hội nghị thiết kế quốc tế tổ chức hàng năm tại Aspen. Từ các hội nghị này mà bác bắt đầu bị thu hút bởi triết lý thiết kế tiện dụng của phong trào Bauhaus (“không có khoảng cách giữa nghệ thuật và tính hữu dụng” là tinh thần của phong trào này). Năm 1983, khi phát biểu tại hội nghị thường niên về thiết kế, bác Steve tuyên bố: “Chúng tôi sẽ tạo ra những sản phẩm công nghệ cao, và sẽ đóng gói chúng một cách thanh mảnh để ai cũng nhận ra chúng là sản phẩm công nghệ cao. Chúng tôi sẽ thiết kế những sản phẩm đóng gói nhỏ, đẹp và màu trắng”. Màu trắng, thiết kế tối giản và gọn nhẹ trở thành mục tiêu thiết kế của Apple từ đó. Trong nghìn trùng các sản phẩm công nghiệp xám đen, Apple nổi bật lên ngay từ giây phút đầu tiên.

Sau này, bác Steve cũng bị thu hút bởi phong cách thiết kế của Nhật, và kết thân với các nhà thiết kế lừng danh Nhật như Issey Miyake (người vẻ kiểu cho chiếc áo cổ cao màu đen mà bác mặc suốt trong thập niên cuối đời) và I.M. Pei. Bác đặc biệt yêu thích những khu vườn mang chất Zen ở Tokyo. Nhưng cuối cùng, các thiết kế của Apple vẫn xây dựng trên nền đơn giản một đặc tính độc nhất vô nhị: nét tươi vui. Sợi dây tai nghe màu trắng uốn lượn quanh cơ thể của các sản phẩm iPod là điển hình của phong cách phối hợp này.

Đam mê thẩm mỹ của bác Steve không chỉ dừng ở các sản phẩm đến tay người tiêu thụ. Nhà máy của Apple tại Fremont, theo đòi hỏi của bác, được sơn tường trắng, máy móc sơn màu xanh sáng, vàng, và đỏ. Thậm chí các con chip máy bác cũng bắt sơn màu trắng thay vì giữ màu xám đen của nguyên vật liệu. Tại nhà riêng ở Palo Alto, bác lựa chọn kỹ càng từng món nội thất, riêng máy giặt và máy sấy cũng mất hai tuần thảo luận trong gia đình để cuối cùng bác mua bộ máy của Miele (Đức). Năm 1999, khi bắt đầu thiết kế các cửa hiệu bán lẻ cho Apple, bác “hành tỏi” đội ngũ thiết kế suốt hai năm để cuối cùng cho ra đời cửa hiệu đầu tiên vào tháng 5/2001 tại Virginia, với quầy phục vụ khách hàng màu trắng tinh, sàn gỗ tẩy sáng, và hình ảnh John Lennon và Yoko Ono to vật vã trên tường. Bác cũng đích thân thiết kế cầu thang bằng kính viền titanium cho các cửa hiệu Apple sau này. Một thay đổi căn bản nữa của cửa hiệu Apple là dùng đá tảng vùng Florence của Ý thay vì dùng sàn gỗ. Với những tấm kính to khổng lồ mà bác Steve đòi hỏi thiết kế cho các cửa hiệu của mình, công ty Apple phải xây riêng nhà máy làm kính tại Trung Quốc. Năm 2006, cửa hiệu Apple trên Đại lộ số 5 ở Manhattan, New York, nơi hội tụ các yếu tố thiết kế ưa thích nhất của bác Steve, đón 50 ngàn khách mỗi tuần trong suốt năm đầu tiên khai trương, trở thành cửa hiệu đông khách nhất và thu lợi cao nhất (tính theo diện tích) trên toàn thế giới.

Categories: Tiếng Việt, Xa

Hồi ký Steve Jobs (2): Cây táo nhà bác Steve

26/10/2011 5 comments

Không có quả táo ngon nào tự nhiên xuất hiện trên đời mà không cần mọc ra từ cây. Bác Steve Jobs may mắn có được “cây táo” chắc khoẻ, trồng trên mảnh đất màu mỡ. Những thành quả mà bác đạt được, nhìn sâu xa, đều khởi nguồn từ đấy. Điểm qua một vài cành táo nhà bác Steve.

  • Bố mẹ (nuôi)

Bác Steve bị bố mẹ ruột cho đi làm con nuôi nhà khác. Tác giả cuốn hồi ký của bác, Walter Isaacson, và vài người được phỏng vấn trong sách cho rằng cảm giác “bị bỏ rơi” của bác Steve khi biết mình chỉ là con nuôi chính là một trong những động lực khiến bác muốn chứng minh với đời và với chính mình rằng bác là người đặc biệt chứ không phải loại bị ruồng bỏ. Nhưng nhìn lại cuộc đời bác thì thấy chính sự hy sinh tyệt đối của bố mẹ nuôi của bác Steve mới là điểm sáng làm cho bác trưởng thành và điều chỉnh bản thân theo hướng tích cực hơn. Khi bác đang hoang mang về tình trạng bị bố mẹ ruột bỏ rơi, bố mẹ nuôi khẳng định với bác rằng họ chọn bác chứ không phải ngẫu nhiên mà bác rơi vào tay họ – nhờ đó tạo cho bác niềm tin rằng bác là người được chọn chứ không phải là kẻ vứt đi. Bố mẹ nuôi này, dù là dân lao động bình thường, vẫn cạy cục vét hết số tiền có được để chuyển đến vùng đất mới để bác được học một trường phổ thông tốt hơn. Khi bác bắt đầu vào đại học, họ lại dồn hết tiền tiết kiệm để đóng tiền học cho bác – chính điều này khiến bác bỏ học nửa chừng, khi bác nhận thấy đang phung phí tiền của bố mẹ cho các khoá học mà bác thấy chẳng hữu dụng gì. Khi bác dọn ra ở với bạn gái, rồi sa đà hút nọ chích kia, bác làm hỏng xe, bố nuôi của bác lọ mọ đi cẩu xe về sửa. Khi bác nổi cơn đi tìm bản ngã tận bên Ấn, sau lại chán cảnh lang thang, bay về nhà, bố mẹ nuôi lại lọ mọ ra sân bay đón bác. Cho đến ngày cuối đời, với bác Steve, bố mẹ nuôi của bác vẫn là “bố mẹ tôi 100%”, còn bố mẹ ruột với bác chỉ là “ngân hàng trứng và tinh trùng, thế thôi”. Read more…

Categories: Tiếng Việt, Xa

Hồi ký Steve Jobs (1): Steve cũng như ta, là lá la

25/10/2011 3 comments

Sau một ngày miệt mài, tớ đã xử lý xong cuốn hồi ký Steve Jobs. Đọc xong thì thấy yên tâm hẳn về bản thân và các bạn bè (hầu hết là lập dị) của tớ. Lý do: chúng ta ai cũng quai quái như bác Steve cả, chẳng qua chúng ta không thiên tài thôi. Cho nên, nếu loại yếu tố thiên

tài ra khỏi cuộc chơi, chúng ta ai qua đời cũng có thể lưu lại trên 500 trang sách thú vị cả. Còn về yếu tố thiên tài thì đằng nào chúng ta cũng thiếu. Thế nên kiểu gì cũng yên tâm.

Điểm nhanh một vài chi tiết làm tớ nhớ hết đứa bạn này đến đứa bạn kia (vì lý do riêng tư, tớ không tag các bạn vào đây, ai thấy giống mình thì lẳng lặng giơ tay lên tại nhà, nhé).

  • Bác Steve mê gái cao độ. Vừa đủ tuổi thành niên, bác đã tuyên bố với bố mẹ bác sẽ dọn ra ở với bạn gái của mình (xứ ta chắc gọi là “sống thử”). Bác mê gái đẹp, gái hippy, gái tóc vàng, gái chơi bồ đà, gái hiện sinh (bác gọi là “tâm linh cao độ”). Bác vừa luôn đề cao deep spiritual connection vừa thích ôm ấp hôn hít nơi công cộng (kể cả công sở). Bác có thể bỏ một cuộc họp quan trọng vào giờ chót nếu bỗng dưng bác gặp gái xinh và muốn tán tỉnh. Nhưng bác cũng có thể cầu hôn đột ngột xong rồi để trơ đấy cả năm để lao đầu vào công việc. Read more…
Categories: Tiếng Việt, Xa
%d bloggers like this: